Viện kiểm sát có kiểm sát việc CQĐT giữ người trong trường hợp khẩn cấp, sau đó trả tự do?

(Kiemsat.vn) – CQĐT, cơ quan được giao tiến hành một số hoạt động điều tra ra quyết định trả tự do cho người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp thì tài liệu liên quan có phải gửi cho Viện kiểm sát để kiểm sát hoạt động giữ người trong trường hợp khẩn cấp không?

Viện kiểm sát có kiểm sát việc CQĐT giữ người trong trường hợp khẩn cấp, sau đó trả tự do không?

Ảnh minh họa, nguồn: internet

Theo quy định tại Điều 110 BLTTHS năm 2015 về giữ người trong trường hợp khẩn cấp thì, khi thuộc một trong các trường hợp khẩn cấp sau đây thì được giữ người:

Có đủ căn cứ để xác định người đó đang chuẩn bị thực hiện tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng;

Người cùng thực hiện tội phạm hoặc bị hại hoặc người có mặt tại nơi xảy ra tội phạm chính mắt nhìn thấy và xác nhận đúng là người đã thực hiện tội phạm mà xét thấy cần ngăn chặn ngay việc người đó trốn;

Có dấu vết của tội phạm ở người hoặc tại chỗ ở hoặc nơi làm việc hoặc trên phương tiện của người bị nghi thực hiện tội phạm và xét thấy cần ngăn chặn ngay việc người đó trốn hoặc tiêu hủy chứng cứ.

Những người sau đây có quyền ra lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp:Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra các cấp; Thủ trưởng đơn vị độc lập cấp trung đoàn và tương đương, Đồn trưởng Đồn biên phòng, Chỉ huy trưởng Biên phòng Cửa khẩu cảng, Chỉ huy trưởng Bộ đội biên phòng tỉnh, thành phố trực truộc trung ương, Cục trưởng Cục trinh sát biên phòng Bộ đội biên phòng, Cục trưởng Cục phòng, chống ma túy và tội phạm Bộ đội biên phòng, Đoàn trưởng Đoàn đặc nhiệm phòng, chống ma túy và tội phạm Bộ đội biên phòng; Tư lệnh vùng lực lượng Cảnh sát biển, Cục trưởng Cục Nghiệp vụ và pháp luật lực lượng Cảnh sát biển, Đoàn trưởng Đoàn đặc nhiệm phòng, chống tội phạm ma túy lực lượng Cảnh sát biển; Chi cục trưởng Chi cục Kiểm ngư vùng; Người chỉ huy tàu bay, tàu biển khi tàu bay, tàu biển đã rời khỏi sân bay, bến cảng.

Lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp phải ghi rõ họ tên, địa chỉ của người bị giữ, lý do, căn cứ giữ người quy định tại khoản 1 Điều này và các nội dung quy định tại khoản 2 Điều 132 của Bộ luật này. Việc thi hành lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp phải theo đúng quy định tại khoản 2 Điều 113 của Bộ luật này.

Trong thời hạn 12 giờ kể từ khi giữ người trong trường hợp khẩn cấp hoặc nhận người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp thì Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra phải lấy lời khai ngay và những người quy định tại điểm a và điểm b khoản 2 Điều này phải ra quyết định tạm giữ, ra lệnh bắt người bị giữ hoặc trả tự do ngay cho người đó. Lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp phải gửi ngay cho Viện kiểm sát cùng cấp hoặc Viện kiểm sát có thẩm quyền kèm theo tài liệu liên quan đến việc giữ người để xét phê chuẩn.

Sau khi giữ người trong trường hợp khẩn cấp, những người quy định tại điểm c khoản 2 Điều này phải giải ngay người bị giữ kèm theo tài liệu liên quan đến việc giữ người trong trường hợp khẩn cấp đến Cơ quan điều tra nơi có sân bay hoặc bến cảng đầu tiên tàu trở về. Trong thời hạn 12 giờ kể từ khi tiếp nhận người bị giữ, Cơ quan điều tra phải lấy lời khai ngay và những người quy định tại điểm a khoản 2 Điều này phải ra quyết định tạm giữ, ra lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp hoặc trả tự do ngay cho người đó. Lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp phải gửi ngay cho Viện kiểm sát cùng cấp kèm theo tài liệu liên quan đến việc giữ người để xét phê chuẩn.

Lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp phải ghi rõ họ tên, địa chỉ của người bị giữ, lý do, căn cứ giữ người quy định tại khoản 1 Điều này và các nội dung quy định tại khoản 2 Điều 132 của Bộ luật này.

Hồ sơ đề nghị Viện kiểm sát phê chuẩn lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp gồm: Văn bản đề nghị Viện kiểm sát phê chuẩn lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp; Lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp, lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, quyết định tạm giữ; Biên bản giữ người trong trường hợp khẩn cấp; Biên bản ghi lời khai của người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp; Chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan đến việc giữ người trong trường hợp khẩn cấp.

Khoản 4 Điều 110 BLTTHS năm 2015 chỉ quy định Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra gửi ngay Lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp cho Viện kiểm sát cùng cấp kèm theo tài liệu liên quan đến việc giữ người để xét phê chuẩn.

Vậy trong trường hợp Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra ra quyết định trả tự do cho người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp thì lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp, quyết định trả tự do và tài liệu liên quan có phải gửi cho Viện kiểm sát để Viện kiểm sát kiểm sát hoạt động giữ người trong trường hợp khẩn cấp này hay không? Nếu phải gửi thì căn cứ vào quy định nào?

Đây là vấn đề còn có nhận thức chưa thống nhất, vì BLTTHS không quy định việc Cơ quan điều tra, Cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra phải gửi lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp, quyết định trả tự do và tài liệu liên quan có phải gửi cho Viện kiểm sát.

Theo quan điểm của tôi, tại Điều 20 BLTTHS năm 2015 quy định: Trách nhiệm thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự. Tại khoản 6 Điều 110 còn quy định: Viện kiểm sát phải kiểm sát chặt chẽ căn cứ giữ người quy định tại khoản 1 Điều này. Theo đó việc áp dụng biện pháp giữ người trong trường hợp khẩn cấp là một biện pháp được quy định trong BLTTHS do người có thẩm quyền tiến hành. Mặt khác, BLTTHS cũng quy định: Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra phải tuân thủ pháp luật khi tiến hành hoạt động điều tra theo quy định của Bộ luật này (Điều 19).

Như vậy, với chức năng, nhiệm vụ thực hành quyền công tố, kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự, Viện kiểm sát phải kiểm sát hoạt động giữ người trong trường hợp khẩn cấp của Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, kể cả trường hợp giữ người sau đó phải trả tự do, có như vậy Viện kiểm sát mới có thể xem xét việc giữ người trong trường hợp khẩn cấp đó có bảo đảm căn cứ hay không? Việc trả tự do cho người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp có đúng quy định của pháp luật hay không và như vậy Cơ quan giữ người trong trường hợp khẩn cấp phải gửi toàn bộ hồ sơ, tài liệu có liên quan đến việc giữ người trong trường hợp khẩn cấp đến Viện kiểm sát.

Rất mong độc giả cùng nghiên cứu, trao đổi về nội dung này./.

 Nguyễn Hữu Sơn

 VKSND tỉnh Điện Biên

Hiện chưa có bình luận(comment) nào. Mời bạn bình luận!

Tin khác đã đăng