Mai táng liệt sĩ

"...Tôi bồng súng đứng gác bên thi hài Sơn trong làn mưa giăng giăng, bàng bạc. Không hiểu nước mắt hay nước mưa mà cứ lăn dài trên gò má...", cảm xúc chợt ùa về trong hồi ức của người lính một thời trận mạc - nguyên Phó Viện trưởng VKSND tối cao Dương Thanh Biểu.

… Đang bám trụ trên đồi cháy – Động Nóc, bờ Nam Bến Hải để làm nhiệm vụ đánh địch đổ bộ chi viện cho mặt trận Khe Sanh thì chúng tôi được giao nhiệm đặc biệt. Đi làm nhiệm vụ đặc biệt lần này có nhiều đồng chí. Ngoài anh Hoàng ra còn có các anh Lê Xuân Trữ, Hoàng Ngọc Loan, Nguyễn Văn Lệ, Lê Văn Ngọ… Mới xa nhau mấy ngày mà trông cậu nào cũng hốc hác, đen sạm, mệt mỏi. Chúng tôi tay bắt mặt mừng nhưng nhìn ai cũng đượm vẻ lo âu. Trữ vừa cười vừa nói với giọng khảng khái, coi cái chết chẳng là gì, phá đi không khí căng thẳng, mệt mỏi này:

– Sống chết cũng có số phận của nó các cậu ạ. Bom đạn tránh mình chứ mình làm sao mà tránh nó được. Chỉ có điều, sau này nhỡ ra, có làm sao thì nhớ báo tin cho gia đình với nhé.

Tôi nhìn Trữ và mọi người rồi liếc nhìn các liệt sĩ đã được gói cẩn thận bằng vải ni lông mà lòng ái ngại, thông cảm cho các bạn. Anh em chúng tôi tập trung trước hầm Chính trị viên đại đội. Trực tiếp giao nhiệm vụ có anh Nguyễn Hữu Thu, Chính trị viên và anh Nguyễn Long Trọng, Đại đội trưởng. Anh Thu quê ở xã Dân Lực, Triệu Sơn, Thanh Hóa. Anh Trọng quê ở xã Quảng Yên, Quảng Xương Thanh Hóa. Chúng tôi được bổ sung vào đơn vị hỏa lực của tiểu đoàn K8A, lại có các thủ trưởng vừa đẹp trai, vừa tâm lý như anh Thu và anh Trọng thì thật vinh hạnh.

Sau khi chúng tôi ổn định chỗ ngồi (dựa vào các gốc cây), anh Nguyễn Hữu Thu phổ biến nội dung của nhiệm vụ đặc biệt. Anh Thu trước đây là giáo viên cấp 2, nhập ngũ 1964. Anh có đôi mắt sáng với giọng nói sang sảng có sức thuyết phục cánh lính trẻ. Anh Thu nhìn chúng tôi nói:

– Hôm nay các đồng chí được cử làm nhiệm vụ đặc biệt. Theo mệnh lệnh của Thủ trưởng Mặt trận, vị trí nơi tác chiến là không an toàn nên phải bằng mọi giá, khẩn trương chuyển các tử sĩ ra bờ bắc sông Bến Hải để mai táng. Chúng ta không thể yên tâm khi để đồng đội của mình an nghỉ nơi không an toàn được. Đây không chỉ là nghĩa tử mà còn là tình cảm đồng đội, đồng chí, sống chết có nhau, là trách nhiệm của chúng ta đối với người đã hy sinh vì Tổ quốc. Ngay trong đêm nay, chúng ta phải đưa thi hài các đồng chí đã hy sinh ra bờ bắc sông Bến Hải. Đường hành quân đêm nay không thuận lợi, có mưa to, gió lớn, rất khó khăn, vất vả. Nhưng vì tình cảm đồng đội, sống chết bên nhau, tôi kêu gọi các đồng chí hãy vượt qua mọi khó khăn, vất vả, bằng mọi cách đưa thi hài các liệt sĩ ra bờ bắc sông Bến Hải an toàn. Các đồng chí được cử đi làm nhiệm vụ đặc biệt lần này là những đồng chí ưu tú, đã được lựa chọn kỹ càng. Do vậy, Đảng ủy Tiểu đoàn và Ban Chi ủy Đại đội rất tin tưởng và gửi trọn niềm tin vào các đồng chí và mong các đồng chí đoàn kết, hoàn thành nhiệm vụ đặc biệt này. Anh Thu nói rất ngắn gọn và sau đó, anh Trọng, Đại đội trưởng phân công nhiệm vụ:

– Để đảm bảo hành quân an toàn, chúng tôi phân công 4 đồng chí đảm nhiệm một cáng tữ sĩ. Đường đi đêm rất khó khăn. Các đồng chí bám sát với nhau, không được đi lạc, giữ bí mật, đề phòng thám báo, biệt kích mai phục. Trong trường hợp bị địch mai phục thì đánh địch, mở đường mà đi. Kiên quyết bảo đảm an toàn tuyệt đối thi hài tử sĩ. Nghe đến đây tôi thấy ghê người quá. Anh Trọng nói tiếp:

– Tôi đề nghị các đồng chí đi làm nhiệm vụ đặc biệt lần này hãy vì tình thương yêu giai cấp, tình đồng đội, các đồng chí không được khạc, nhổ trước anh linh đồng chí mình. Nghe đến đây tôi thấy rùng rợn, nổi gai ốc.

Sau đó tôi được phân công cùng anh Hoàng, Trự, Lệ khiêng một cáng tử sĩ. Trữ quê ở xã Hưng Hòa, thành phố Vinh; Lệ quê ở Nam Cát. Chúng tôi cùng nhập ngũ một ngày, vào chiến trường B5 lại cùng đơn vị. Anh Hoàng khoác áo mưa, đeo khẩu súng AK đi trước. Tôi và Trự khiêng tử sĩ đi sau. Sau cùng là Lệ. Tử sĩ là anh Nguyễn Hồng Sơn, quê ở Hưng Lợi, Hưng Nguyên, cùng nhập ngũ với chúng tôi. Anh Sơn bị mảnh pháo xuyên ngực cách đây 4 hôm. Tuy được bó bằng vải ni lông nhưng vẫn bốc mùi rất nặng.

Mới 5 giờ chiều mà đường đi đã tối sẫm. Trời vẫn mưa ngày càng nặng hạt. Trữ người nhỏ hơn nên đi sau, tôi đi trước, Trữ đi sau. Mội tay tôi giữ cáng, tay kia chống gậy và đi theo anh Hoàng. Anh Hoàng vừa đi vừa dò dẫm. Có đoạn đi được một quãng nhầm đường phải quay lại. Những lúc xuống dốc, đường trơn, cáng tử sĩ khá nặng đè lên vai rất khó đi. Có lúc trượt chân, thế là cáng tử sĩ đè lên người. Những lúc đó phải có anh Hoàng và Lệ kéo lên mới đi được. Nước của xác tử sĩ theo cáng chảy vào người nhơn nhớt. Thật kinh khủng. Khoảng 3 giờ sáng thì chúng tôi đến sông Bến Hải. Lúc này trời mưa như trút nước. Trời tối đen như mực. Nước sông dâng cao. Anh Hoàng cho anh em tạm nghỉ chờ nước rút mới khiêng tử sĩ sang sông được. Anh Hoàng vuốt nước mưa, nói:

– Bây giờ ta tạm nghỉ tại đây. Mưa thế này có thể sáng mai tạnh khi đó mới vượt sông được. Chúng ta thay nhau thức canh tử sĩ. Phải đề phòng thú rừng, tuyệt đối không được để mất tử sĩ.

Tối đó chúng tôi thay nhau đứng giữa trời mưa để canh tử sĩ. Tôi và Trữ được phân công gác trước. Chúng tôi đứng gác mà bụng đói cồn cào. Đứng dưới làn mưa bàng bạc, Trữ hỏi tôi:

– Đói bụng quá. Tớ còn cơm đây. Cậu ăn với mình nhé. Vừa nói Trự vừa móc nắm cơm trong túi ra đã ướt sũng. Trời tiếp tục mưa như trút nước. Tôi nhìn Trữ, nhìn mưa giăng giăng, nước sông chảy ầm ĩ mà lòng ngao ngán quá chừng. Chưa bao giờ tôi lại nghĩ đời bộ đội sao mà lắm gian nguy thế này. Khi còn là cậu học sinh có ai kể cho mình về sự gian nan vất vả của bộ đội như thế này đâu. Bụng thì đói mà hai lỗ mũi lúc nào cũng phảng phất mùi tử sĩ. Tôi chép miệng, trả lời Trữ:

– Làm sao mà ăn nổi. Cậu ăn đi. Tôi vừa nhìn vừa chỉ tay ra bờ sông đang ào ào thác đổ:

– Kiểu này có thể nước sông ngập lên đến đây chắc. Trữ vừa cố gắng nuốt trôi miếng cơm nắm, khoát tay nói:

– Mặc nó, ăn đi mà lấy sức. Nước sông có lên đến đây ta lại tiếp tục chuyển tử sĩ lên cao hơn nữa.

Nói chưa xong Trữ đã ngoạm cả miếng cơm còn lại một cách ngon lành. Đúng là anh chàng như tiểu đội thường nói là đẹp trai nhưng rất háu đói. Trong lúc đó, mặc dù bụng đói nhưng tôi không thể ăn được. Một phần vì mệt, nhưng cái quan trọng là hai lỗ mũi cứ phảng phất mùi tử sĩ, cổ họng luôn chực buồn nôn, nghĩ tới cơm là muốn ọe ra rồi. Đứng gác bên thi hài tử sĩ mới thấm thía lời căn dặn của Đại đội trưởng Nguyễn Long Trọng: “Vì tình yêu giai cấp, tình yêu đồng chí, đồng đội, các đồng chí không được khạc nhổ trước anh linh đồng chí mình”. Do vậy, tôi cố chịu đựng cho trọn bổn phận là người đồng đội của Sơn. Trời tiếp tục mưa giăng giăng, sấm chớp xen lẫn tiếng pháo cầm canh nổ đì đoàng. Anh Hoàng thức đậy từ lúc nào đến bên tôi, vỗ vai:

– Bây giờ để tớ gác cho. Các cậu tranh thủ ngồi ngủ một tẻo cho đỡ mệt. Tôi thấy ánh sáng đã le lói phía đông, bèn nói với anh Hoàng:

– Trời gần sáng rồi anh a. Em cũng chẳng buồn ngủ nữa. Anh và Trữ cứ tranh thủ ngủ đi. Tôi chưa nói dứt thì Trữ đã vén áo mưa, ghé mông vào gốc cây mục ngồi thụp xuống, trùm áo mưa và ngủ luôn. Còn anh Hoàng thì bật lửa hút thuốc.

Tôi bồng súng đứng gác bên thi hài Sơn trong làn mưa giăng giăng, bàng bạc. Không hiểu nước mắt hay nước mưa mà cứ lăn dài trên gò má. Nhìn xác tử sĩ được gói tròn trịa bằng áo mưa, nằm ngay ngắn trên chiếc cáng được dựa vào hai thân cây. Mặc cho mưa rơi bắn vào cáng nghe lộp bộp, tôi vẫn đứng nhìn Sơn. Tự nhiên con tim tôi nhói đau. Sơn ơi. Chỉ mới cách đây mấy hôm, chúng mình đang cùng nhau hút chung điếu thuốc lá Sa Lem lấy được của bọn lính Mỹ trên đồi Cháy, mà bây giò Sơn đã ra đi để lại nỗi mất mát, đau thương cho tiểu đội, cho bọn mình. Mình vẫn nhớ câu nói của Sơn dặn mọi người: Nếu trong chiến đấu có làm sao thì người còn lại phải báo ngay cho gia đình. Bây giờ người ra đi trước là Sơn. Thật đau xót cho tình cảm đồng chí, đồng hương chúng mình Sơn ạ. Bọn mình đã vượt bao núi cao, dốc thẳm để đưa Sơn sang bờ bắc sông Bến Hải cho an toàn. Chúng mình sẽ làm mộ chí cẩn thận và sẽ báo cho gia đình Sơn biết.

Hôm trước, bên miệng công sự trực chiến, Sơn có kể cho chúng mình nghe về sự khó khăn, vất vả của gia đình Sơn. Bao nhiêu năm nay, gia đình Sơn vẫn ở ngôi nhà tranh dột nát. Đã bao lần dọi lại mà vẫn bị dột. Bố mẹ Sơn phải chuẩn bị mấy năm mới mua đủ tranh, tre, nứa, lá để sửa lại nhà. Nhưng Sơn đi bộ đội nên việc sửa nhà phải hoãn lại. Gia đình chờ Sơn về mới làm lại nhà và cưới vợ cho Sơn. Sơn cũng ao ước, sau này, khi đất nước hòa bình, thống nhất, Sơn sẽ về làm cho bố mẹ nếp nhà tranh nho nhỏ để hưởng tuổi già. Một ước mơ giản dị của người lính mà không sao thực hiện được. Sơn nằm đấy và đang ngủ ngon lành, trong lúc bố, mẹ ở nhà  vẫn mong mỏi từng ngày. Có lẽ hoàn cảnh người lính chúng mình cũng rất giống nhau Sơn ạ.

Tiễn biệt Sơn không hương, không nến cũng không hoa. Giữa mưa ngàn thác đổ, giữa trận địa đầy hiểm nguy này, tiễn biệt Sơn với tấm lòng đồng đội kiên trung, luyến tiếc, sẽ chia. Mặc gió to, lũ lớn, mặc thác ghềnh hiểm nguy, mình và đồng đội vẫn bồng súng đứng gác cho Sơn an giấc để rồi sẽ đưa Sơn đến nơi an toàn, yên giấc ngàn thu.

Sáng hôm sau, mưa cũng ngớt dần. Mưa đầu nguồn có khác. Vừa mưa nước đã dâng cao; ngớt mưa nước cũng rút rất nhanh. Những hòn đá nhấp nhô ngày càng lộ dần lên mặt nước. Chúng tôi khẩn trương khênh cáng liệt sĩ vượt sông Bến Hải. Sông chảy cuồn cuộn. Chúng tôi vừa khênh tử sĩ vừa bám vào dây thừng mà các chiến sĩ giao liên đã làm sẵn để vượt sông. Nếu không có giây thừng này thì dòng nước có thể cuốn chúng tôi đi bất cứ lúc nào.

Chúng tôi vừa khênh xác tử sĩ qua sông thì cũng là lúc máy bay Mỹ bắn phá hai bên bờ sông Bến Hải. Chúng tôi vội vả khênh xác tử sĩ đến xã Vĩnh Ô, Vĩnh Linh để mai táng. Mấy anh em hì hục đào huyệt chôn cất tử sĩ và ghi thẻ mộ chí cho anh Sơn. Mai táng tử sĩ xong, chúng tôi khẩn trương quay lại sông Bến Hải để về đơn vị. Sau đợt công tác đặc biệt này, lỗ mũi tôi lúc nào cũng thoang thoảng mùi tử sĩ, mặc dù luôn xức dầu con hổ nhưng vẫn không hết mùi.

Câu chuyện trên đây chỉ có người lính mới gặp phải. Khi còn là học sinh chẳng bao giờ tôi nghĩ tới. Với chiến trường, sự sống và cái chết gần nhau trong gang tấc. Cùng nhau giữa chiến hào nhưng chỉ giây phút sau, đồng chí của mình đã hy sinh bởi đạn địch, không một lời trăng trối. Thương tâm hơn, vừa ăn cơm xong có người đã dính mảnh đạn pháo của địch chết ngay. Có biết bao lời hẹn ước lúc lên đường dành cho ngày gặp lại, mà không thể thành hiện thực, còn biết bao đồng đội, mặt búng ra sữa, chưa một ánh mắt trao nhau, chưa một lời hẹn ước… đã phải từ giã cuộc đời…

(Trích từ cuốn sách “Một thời trận mạc” của TS. Dương Thanh Biểu, nguyên Phó Viện trưởng VKSND tối cao)

Hiện chưa có bình luận(comment) nào. Mời bạn bình luận!

Tin khác đã đăng